Đã có một thời gian tôi thật sự yêu thích công ty này. Tôi từng tin rằng ở đây, một kỹ sư có thể được ghi nhận bằng năng lực chuyên môn, bằng những vấn đề đã giải quyết và những sản phẩm đã góp phần xây dựng. Nhưng công ty thay đổi, công việc thay đổi, và có lẽ tôi cũng đã thay đổi. Điều khó khăn nhất không phải là quyết định có nên nghỉ việc hay không, mà là chấp nhận rằng nơi mình muốn ở lại có thể chỉ còn tồn tại trong ký ức.
- Mở đầu
- Ngày đầu tiên, tôi đã nghĩ mình tìm thấy thiên đường
- Những thay đổi tôi từng cho rằng không đáng lo
- Khi dự án kết thúc vì “khách hàng hết tiền”
- Kỳ đánh giá đầu tiên khiến tôi cảm thấy bất an
- Đi “đánh thuê” và vị trí thấp nhất trong dự án
- Một dự án không có mục tiêu rõ ràng
- Kỳ đánh giá khiến hình ảnh về công ty trong tôi sụp đổ
- Tôi trở thành người thừa từ lúc nào?
- Một cơ hội được nhắc đến rồi biến mất
- Tôi đặt hy vọng vào bộ phận AI
- Lần đầu tiên tôi chính thức bị giảm lương
- Những người từng đặt kỳ vọng lần lượt rời đi
- Sống trong trạng thái chờ đợi
- Môi trường lý tưởng đã kết thúc từ bao giờ?
- Điều tôi từng muốn tránh cuối cùng vẫn đuổi kịp tôi
- Tôi vẫn thích công việc kỹ thuật như ngày nào
- Điều làm tôi mệt mỏi không chỉ là chuyện giảm lương
- Tôi đã ở lại vì sợ phải bắt đầu lại
- Có lẽ nghỉ việc không có nghĩa là tôi đã thất bại
- Tôi cần chuẩn bị trước khi rời đi
- Có lẽ đã đến lúc tôi nên nghỉ việc
Mở đầu
Tôi đã suy nghĩ rất lâu trước khi viết những dòng này.
Đây không phải là một quyết định bộc phát sau một ngày làm việc tồi tệ. Cũng không phải là lời than phiền vì một lần bị cấp trên phê bình hay một kỳ đánh giá không như mong đợi.
Cảm giác muốn nghỉ việc trong tôi đã tích tụ qua nhiều năm. Nó bắt đầu từ những thay đổi nhỏ mà ban đầu tôi cho rằng không đáng để bận tâm. Đến một lúc nào đó, khi nhìn lại, tôi mới nhận ra môi trường mình từng yêu thích dường như đã không còn tồn tại.
Tôi viết bài này không phải để tìm người đúng, người sai. Tôi chỉ muốn nhìn lại hành trình của chính mình và thành thật với những gì mình đang cảm thấy.
Có lẽ nếu không viết ra, tôi sẽ còn tiếp tục tự nhủ rằng mọi thứ chỉ là một giai đoạn tạm thời.
Và câu hỏi mà tôi đã né tránh suốt một thời gian dài là:
Đã đến lúc tôi nên nghỉ việc hay chưa?
Ngày đầu tiên, tôi đã nghĩ mình tìm thấy thiên đường
Đến tận bây giờ, mỗi khi nhớ lại những ngày đầu tiên ở công ty, tôi vẫn nhớ rất rõ cảm giác hào hứng khi ấy.
Tôi thực sự tin rằng mình đã tìm được môi trường làm việc mà bản thân vẫn luôn tìm kiếm.
Công việc ở đây gần như trùng khớp với những gì tôi từng hình dung về một nơi làm việc lý tưởng. Tôi được tham gia các dự án cho những khách hàng lớn, được tiếp xúc với công nghệ hiện đại và được cấp đầy đủ tài khoản cho những dịch vụ trả phí cần thiết. Tôi không phải tự xoay xở với các công cụ miễn phí thiếu chức năng, cũng không cần xin đi xin lại chỉ để có một tài khoản phục vụ công việc.
Những điều ấy nghe có vẻ nhỏ, nhưng với tôi khi đó, chúng thể hiện rằng công ty thật sự coi trọng công việc kỹ thuật.
Tôi có cảm giác bộ phận của mình được ưu tiên. Chuyên môn của tôi được coi trọng và năng lực của tôi được nhìn nhận đúng với những gì tôi có thể làm. Sau những trải nghiệm không mấy vui vẻ ở công ty cũ, nơi tôi thường xuyên phải đảm nhận những công việc mà bản thân không thấy phù hợp, cảm giác ấy có ý nghĩa rất lớn.
Trong bộ phận còn có nhiều người nước ngoài. Điều đó khiến tôi yên tâm hơn vì tôi không cảm thấy mình là người duy nhất khác biệt. Tôi không phải lúc nào cũng lo rằng cách suy nghĩ, cách diễn đạt hay nền tảng văn hóa của mình sẽ khiến mình trở nên lạc lõng trong một công ty Nhật.
Điều khiến tôi ấn tượng nhất là quan niệm về vai trò trong dự án.
Trong bộ phận, công việc của kỹ sư hệ thống, kỹ sư phát triển hay quản lý dự án đều được xem là những phần khác nhau của cùng một dự án. Theo tư tưởng Agile mà chúng tôi theo đuổi, không có công việc nào “sang” hơn công việc nào. Một người không mặc nhiên tạo ra nhiều giá trị hơn chỉ vì thường xuyên nói chuyện với khách hàng. Người trực tiếp viết code cũng không phải là người đứng ở vị trí thấp hơn.
Mỗi người đảm nhận một phần khác nhau, và tất cả những phần đó đều quan trọng đối với thành công chung.
Tôi đặc biệt thích cách suy nghĩ ấy.
Tôi không cần dành phần lớn năng lượng để làm hài lòng khách hàng bằng lời nói. Tôi có thể tập trung làm tốt chuyên môn của mình. Tôi tin rằng nếu sản phẩm có chất lượng, nếu từng thành viên đều có kỹ năng tốt và thực hiện đúng trách nhiệm của mình, khách hàng sẽ tự cảm nhận được giá trị.
Các dự án khi đó thường tập trung vào việc nhanh chóng xây dựng MVP hoặc prototype để khách hàng sớm đưa ý tưởng vào hoạt động kinh doanh. Mục tiêu là giúp họ thử nghiệm thị trường, phản ứng nhanh với thay đổi và duy trì lợi thế trước đối thủ.
Để làm được điều đó, bộ phận tuyển những người có trình độ cao. Bài kiểm tra đầu vào khá phức tạp, gồm nhiều vòng và đòi hỏi cả kiến thức lẫn khả năng giải quyết vấn đề.
Tôi đã vượt qua tất cả những vòng tuyển dụng ấy.
Tôi rất tự hào về điều đó.
Hồi ấy, tôi thật sự tin rằng công ty nhìn thấy những gì mình có thể làm. Và tôi cũng tin rằng mình đã chọn đúng nơi.
Với một môi trường như thế, tôi từng nghĩ mình có thể gắn bó lâu dài. Thậm chí, đã có lúc tôi cho rằng mình sẽ không cần tìm một công ty nào khác nữa.
Những thay đổi tôi từng cho rằng không đáng lo
Sau một dự án đầu tiên khá ngắn, tôi được giao tham gia một dự án kéo dài hơn hai năm.
Trong khoảng thời gian đó, bộ phận của tôi có rất nhiều biến động. Cơ cấu tổ chức thay đổi liên tục. Người quản lý trực tiếp cũng thay đổi nhiều lần, đến mức gần như không có ai quản lý tôi đủ lâu để theo dõi và đánh giá công việc của tôi xuyên suốt hai kỳ liên tiếp.
Ban đầu, tôi không để tâm nhiều.
Tái cơ cấu là chuyện tương đối bình thường trong các công ty lớn. Tôi nghĩ rằng chỉ cần dự án vẫn tiếp tục, công việc không bị ảnh hưởng và lương vẫn được trả đúng hạn thì việc sơ đồ tổ chức thay đổi không phải là điều quá đáng lo ngại.
Tôi vẫn làm dự án, vẫn trao đổi với khách hàng và vẫn hoàn thành trách nhiệm của mình. Vì vậy, tôi cứ tiếp tục làm việc như trước.
Thế nhưng, đến khi vị trưởng bộ phận mà tôi từng nghĩ sẽ còn gắn bó lâu dài cũng chuyển sang đơn vị khác, tôi bắt đầu cảm thấy có điều gì đó không ổn.
Khi ấy, tôi chỉ nghĩ mình tiếc một người quản lý mà bản thân tin tưởng. Tôi chưa nhận ra rằng cách ông xây dựng bộ phận có thể chính là một phần quan trọng tạo nên môi trường mà tôi từng yêu thích. Phải nhiều năm sau, khi làm việc dưới những cách quản lý khác nhau, tôi mới bắt đầu nghĩ đến khả năng đó.
Sau đó, quá trình tái cơ cấu diễn ra mạnh đến mức bộ phận của tôi mất luôn tên ban đầu và trở thành một nhóm thuộc một bộ phận khác. Về sau, tôi được biết tên cũ của bộ phận lại được chuyển cho một đơn vị khác, được thành lập từ một số thành viên từng tách ra từ chính bộ phận của chúng tôi.
Khi chuyện ấy xảy ra, tôi vẫn cố nghĩ đơn giản rằng tên gọi, suy cho cùng, cũng chỉ là tên gọi. Điều quan trọng nhất vẫn phải là bản chất công việc.
Nhưng khi nhìn lại, tôi nhận ra không chỉ cái tên thay đổi.
Nhiều thứ khác cũng thay đổi theo. Chỉ là khi ấy, tôi chưa đủ chú ý để nhận ra mà thôi.
Khi dự án kết thúc vì “khách hàng hết tiền”
Cùng thời điểm bộ phận tái cơ cấu, dự án kéo dài hơn hai năm của tôi cũng kết thúc.
Theo lời quản lý trực tiếp khi đó, lý do là “khách hàng hết tiền”.
Sau dự án ấy, tôi trải qua một thời gian không có dự án chính thức. Tôi cùng hai người khác được giao nhiệm vụ xây dựng template hoặc boilerplate cho bộ phận.
Nếu chỉ nghe tên, đây là một công việc có ý nghĩa. Một bộ template tốt có thể giúp các dự án sau khởi động nhanh hơn, thống nhất cấu trúc và giảm những công việc lặp lại.
Tuy nhiên, cả ba chúng tôi đều hiểu rằng đây là công việc tạm thời trong lúc chưa có dự án mới.
Dù vậy, khi ấy tôi vẫn lạc quan. Tôi vẫn được đánh giá tốt và vẫn được tăng lương. Vì thế, tôi xem đây như một quãng nghỉ sau một dự án dài, đồng thời là thời gian chuẩn bị trước khi bước vào dự án tiếp theo.
Sau đó, hai người làm cùng tôi lần lượt được đưa vào những dự án khác.
Cuối cùng, chỉ còn lại một mình tôi.
Tôi vẫn tự nhủ rằng chuyện đó chỉ là tạm thời. Công ty có nhiều khách hàng, bộ phận trước đây từng có nhiều dự án và nhu cầu nhân lực chắc chắn rồi sẽ xuất hiện.
Khi đó, tôi chưa nghĩ rằng việc một người bị để lại quá lâu đôi khi không còn đơn thuần là vấn đề lịch trình.
Nó cũng có thể là dấu hiệu cho thấy tổ chức chưa biết nên đặt người đó vào đâu.
Kỳ đánh giá đầu tiên khiến tôi cảm thấy bất an
Đến kỳ đánh giá sau đó, quản lý của tôi bắt đầu nói về những điều trước đây chưa từng được nhắc tới.
Ông nói đây là công ty Nhật và phần lớn khách hàng cũng là công ty Nhật. Ông hỏi về trình độ tiếng Nhật của tôi, đồng thời lấy chính file Excel tôi dùng để trình bày nội dung tự đánh giá làm ví dụ.
Tôi vốn xem file đó giống như một bản báo cáo nội bộ nên đã sử dụng cách viết ngắn gọn thường thấy trong tài liệu công việc. Tôi không nghĩ đó là một bài văn cần câu chữ hoàn chỉnh hoặc phải thể hiện khả năng ngôn ngữ theo một cách đặc biệt.
Với những người quản lý trước đây, điều đó chưa từng trở thành vấn đề.
Tuy nhiên, người quản lý khi đó không đánh giá cao cách viết ấy. Ông xem đó là một ví dụ cho thấy khả năng tiếng Nhật của tôi còn hạn chế.
Tất nhiên, tôi hiểu tiếng Nhật của mình không thể giống một người bản xứ. Tôi chưa bao giờ phủ nhận điều đó. Nhưng trong suốt thời gian làm việc với khách hàng, theo cảm nhận của tôi, ngôn ngữ chưa từng gây ra một vấn đề nghiêm trọng. Tôi vẫn trao đổi được, vẫn hiểu yêu cầu và vẫn hoàn thành công việc.
Điều khiến tôi băn khoăn là trước đó chưa ai xem đây là một vấn đề lớn. Vậy mà đột nhiên, nó lại trở thành một trong những nội dung được nhắc đến nhiều nhất trong buổi đánh giá.
Trong cuộc nói chuyện ấy, ông cũng nhắc đến một người sắp nghỉ việc. Tôi biết người đó. Anh là một đồng nghiệp người Hàn Quốc, từng học tại Đại học Tokyo và làm việc với cùng một khách hàng với tôi, dù ở một nhóm khác.
Khi ấy, tôi không nghĩ nhiều về việc ông nhắc đến người đồng nghiệp đó. Nhưng về sau, mỗi khi nhớ lại cuộc nói chuyện, tôi vẫn tự hỏi vì sao câu chuyện ấy lại được đưa ra trong buổi đánh giá của mình.
Tôi không biết ông có hàm ý gì hay không. Có thể đó chỉ là một ví dụ được nhắc đến tình cờ. Dù vậy, trong bối cảnh khả năng tiếng Nhật và nguy cơ giảm lương liên tục được đề cập, câu chuyện ấy đã khiến tôi cảm thấy vị trí của mình không còn chắc chắn như trước.
Tôi không biết câu trả lời. Có thể tôi đã suy nghĩ quá nhiều.
Nhưng cảm giác bất an trong tôi là có thật.
Cuối buổi, quản lý nói rằng sau này công ty sẽ đánh giá lại trình độ của tôi và thậm chí có thể giảm lương. Điều đó hoàn toàn trái ngược với những gì chính ông từng nói trong kỳ đánh giá trước, khi ông cho rằng sẽ không có chuyện giảm lương.
Từ thời điểm ấy, tôi bắt đầu cảm thấy vị trí của mình trong công ty không còn chắc chắn như trước.
Đi “đánh thuê” và vị trí thấp nhất trong dự án
Sau đó, tôi được đưa sang hỗ trợ một bộ phận khác. Trùng hợp là bộ phận đó đã nhận tên cũ của bộ phận tôi.
Tôi thường gọi hoàn cảnh này là đi “đánh thuê”. Trên danh nghĩa, tôi vẫn thuộc bộ phận cũ, nhưng công việc thực tế lại nằm ở một đơn vị khác.
Dự án đầu tiên là phát triển một mạng xã hội nội bộ cho công ty. Ban đầu, kế hoạch là tôi sẽ thực hiện một mình. Sau đó, dự án bổ sung thêm một số thành viên.
Trong cơ cấu nhân sự, tôi được xếp ở vị trí thấp nhất và chỉ phụ trách frontend. Phía trên tôi còn có một frontend leader.
Tôi không phản đối việc có leader. Tuy nhiên, cách sắp xếp đó khiến tôi hiểu mình đang được nhìn nhận ở vị trí nào.
Tôi vẫn làm việc như bình thường. Người leader thậm chí còn nói rằng với năng lực của tôi khi ấy, ông không cần hỗ trợ nhiều và tôi hoàn toàn có thể làm việc độc lập.
Vai trò chính của ông là review, còn tôi vẫn tự triển khai phần việc của mình.
Dự án này không kéo dài lâu. Sau khi kết thúc, bộ phận ấy tiếp tục đưa tôi vào một dự án nội bộ khác đã được phát triển từ trước.
Một dự án không có mục tiêu rõ ràng
Dự án mới không có cột mốc cụ thể, không có deadline rõ ràng và cũng không có yêu cầu chính xác.
Thành thật mà nói, làm một dự án như vậy khiến tôi thấy nặng nề theo một cách khác.
Không phải vì quá bận, mà vì không có gì thật sự rõ ràng.
Không có yêu cầu cụ thể, không có áp lực thời gian và cũng không có tiêu chí thống nhất để xác định thế nào là hoàn thành tốt. Tôi có cảm giác làm theo cách nào cũng được, miễn là vẫn có một việc gì đó để báo cáo.
Ngoài những người từng tham gia từ trước, nhóm còn có thêm một đồng nghiệp khác từ bộ phận của tôi sang hỗ trợ. Anh ấy cũng ở trong tình trạng đi “đánh thuê” giống tôi.
Ban đầu, tôi nghĩ đây đơn giản là nơi để những người chưa có dự án chính thức làm việc tạm thời. Dù sao, để nhân viên ngồi không cũng là một sự lãng phí.
Tuy nhiên, khi kỳ đánh giá đến gần, cách mọi người review code của tôi đột nhiên trở nên chi tiết hơn rất nhiều.
Chất lượng code có sẵn của dự án vốn không tốt theo đánh giá cá nhân của tôi. Đã có lúc tôi muốn viết lại gần như toàn bộ, nhưng tôi hiểu rằng mình không có đủ thời gian và quyền hạn để làm điều đó. Vì vậy, tôi chỉ chỉnh sửa những file liên quan trực tiếp đến phần việc được giao.
Trong quá trình review, tôi được nhắc rằng những thay đổi nằm ngoài phạm vi của task phải được bàn bạc trước. Trong khi đó, theo cách hiểu của tôi, tôi không thay đổi logic mà chỉ sắp xếp lại code để dễ đọc và dễ bảo trì hơn.
Từ góc nhìn của người review, có thể họ muốn kiểm soát phạm vi thay đổi và giảm rủi ro. Tôi hiểu lý do đó. Nhưng ở vị trí của mình, tôi cảm thấy quy trình ngày càng trở nên nặng nề. Một thay đổi nhỏ cũng cần được giải thích và thống nhất qua nhiều bước.
Có lần, khi tôi phát triển frontend bằng Ant Design, cách tôi sử dụng component cũng được xem xét rất kỹ. Tôi nhận được những bình luận rằng cách này tốt hơn cách kia, dựa trên kinh nghiệm từ một dự án khác hoặc quan điểm của một người được đánh giá cao.
Tôi đã đọc những nhận xét đó, nhưng không phải lúc nào cũng hiểu chúng liên quan thế nào đến trường hợp cụ thể của mình. Phần code tôi viết khá đơn giản. Theo đánh giá của tôi, dùng cách A hay cách B đều tạo ra kết quả tương tự và không có khác biệt đáng kể về hiệu năng, độ ổn định hoặc khả năng bảo trì.
Tôi không phản đối code review. Ngược lại, tôi luôn cho rằng review là một phần cần thiết của quá trình phát triển phần mềm.
Nhưng khi những chi tiết rất nhỏ được xem xét kỹ trong một dự án chưa có mục tiêu và tiêu chuẩn hoàn thành rõ ràng, tôi bắt đầu cảm thấy mất phương hướng.
Tôi không còn biết điều gì mới thật sự được xem là quan trọng.
Kỳ đánh giá khiến hình ảnh về công ty trong tôi sụp đổ
Đến kỳ đánh giá tiếp theo, tôi nhận được rất nhiều phản hồi tiêu cực.
Tôi được nhận xét là chất lượng code chưa tốt, không chủ động tìm task hoặc tự xác định công việc cần làm. Theo đánh giá khi đó, tôi chủ yếu chỉ có khả năng thực hiện những task đã được chuẩn bị sẵn.
Điều khiến tôi thất vọng là trong giai đoạn đó, tôi đã tham gia hai dự án, nhưng dự án đầu tiên gần như không được nhắc đến. Đó là dự án mà tôi có thể làm việc độc lập và được frontend leader đánh giá rằng không cần hỗ trợ nhiều.
Thay vào đó, phần lớn nhận xét tập trung vào dự án thứ hai, một dự án vốn không có mục tiêu, deadline hay phạm vi trách nhiệm rõ ràng.
Những nội dung tôi tự đánh giá cũng hầu như không được công nhận.
Trong dự án thứ hai, tôi chỉ phụ trách phần quản trị và backend API. Phần frontend dành cho người dùng cuối và ứng dụng di động do những nhóm khác phát triển. Khi có thay đổi ở frontend hoặc ứng dụng, các nhóm liên quan thường họp với nhau mà không có tôi tham gia.
Vì vậy, tôi không biết người dùng cuối thật sự cần gì. Tôi cũng không biết nội bộ muốn thay đổi điều gì cho đến khi những người khác đã thảo luận, thống nhất và chuyển kết quả thành một task cụ thể cho tôi.
Trong hoàn cảnh ấy, tôi thấy rất khó để tự xác định yêu cầu hoặc chủ động đề xuất công việc.
Tuy nhiên, đến kỳ đánh giá, chính hoàn cảnh đó lại trở thành cơ sở để kết luận rằng tôi không chủ động và chỉ có thể thực hiện những việc đã được người khác chuẩn bị.
Tôi bị xếp ở cấp bậc chỉ cao hơn người mới tốt nghiệp một chút.
Tôi nhớ khi ấy mình không phản bác. Tôi chỉ ngồi nghe.
Trên lý thuyết, đó chỉ là một cấp bậc trong hệ thống đánh giá. Nhưng trong đầu tôi lúc ấy lại hiện lên tất cả những gì mình đã làm trong những năm trước.
Tôi tự hỏi những kinh nghiệm đó đã biến mất ở đâu.
Tôi có cảm giác như đang nhìn thấy một thứ gì đó vỡ ra mà không kịp giữ lại. Những ấn tượng từ ngày đầu tiên, về môi trường lý tưởng, triết lý Agile và cảm giác được coi trọng, gần như tan biến.
Những mô hình kinh doanh và những loại dự án được giới thiệu khi tôi mới vào công ty dường như không còn phổ biến như trước. Thay vào đó, tôi ngày càng được kỳ vọng phải có những kỹ năng mềm và kỹ năng kinh doanh mà chính vì không muốn dành phần lớn thời gian cho chúng, tôi từng rời công ty cũ.
Tôi từng tin rằng một kỹ sư có thể tạo ra giá trị chủ yếu bằng năng lực chuyên môn. Nhưng theo thời gian, những khả năng như tự tìm việc, thuyết phục khách hàng, tạo nhu cầu và mở rộng phạm vi dự án dần trở thành điều kiện quan trọng để được đánh giá cao hơn.
Tôi không cho rằng những năng lực ấy không cần thiết.
Tôi chỉ bắt đầu nhận ra rằng môi trường này đang dần khác với môi trường mà tôi đã lựa chọn lúc ban đầu.
Cũng từ khoảng thời gian đó, mỗi sáng bắt đầu làm việc, tôi thường có một cảm giác lạ lẫm.
Vẫn là nơi chốn cũ. Vẫn là những người quen.
Nhưng điều khiến tôi từng muốn gắn bó với nơi này dường như đã không còn ở đó nữa.
Tôi trở thành người thừa từ lúc nào?
Từ đó, tôi bắt đầu có cảm giác mình không còn thuộc nhóm những người được ưu tiên như trước.
Tôi không biết mình có thực sự trở thành người thừa hay không. Không ai từng nói thẳng với tôi điều đó. Đây chỉ là cảm nhận hình thành khi tôi ngày càng đứng xa hơn khỏi những quyết định quan trọng của bộ phận.
Tôi có cảm giác bộ phận cũ không còn biết nên giao tôi cho công việc nào, trong khi bộ phận đang nhận tôi hỗ trợ cũng không có một vị trí chính thức dành cho tôi.
Không ai từng nói rằng họ không cần tôi. Nhưng việc liên tục làm những công việc tạm thời, đứng ngoài các quyết định quan trọng và không biết mình sẽ thuộc về đâu trong vài tháng tiếp theo khiến tôi dần cảm thấy mình đang ở bên lề tổ chức.
Khi ấy, tôi chưa biết liệu đây chỉ là hệ quả của việc tái cơ cấu hay còn có một nguyên nhân nào khác. Tôi chỉ biết rằng cảm giác được tin tưởng và cần đến, thứ tôi từng có trong những năm đầu tiên, đang dần biến mất.
Càng ngày, tôi càng thấy nếu một ngày mình nghỉ việc thì có lẽ cũng không tạo ra quá nhiều khác biệt.
Đã có lúc tôi tự hỏi nếu mình rời đi ngay khi ấy, liệu có ai thật sự cảm thấy thiếu vắng hay không.
Cảm giác đó khó chịu hơn tôi tưởng.
Không ai nói rằng tôi không còn cần thiết. Nhưng sự thiếu rõ ràng kéo dài khiến tôi dần nghi ngờ vị trí của chính mình.
Tôi hiểu tình hình của mình. Tuy nhiên, mỗi khi nghĩ đến việc tìm công ty mới, viết lại hồ sơ, chuẩn bị phỏng vấn và trải qua hàng loạt vòng kiểm tra, tôi lại thấy mệt mỏi.
Tôi tự an ủi rằng chỉ cần đợi đến khi có một dự án phù hợp, mọi chuyện sẽ ổn. Tôi vẫn muốn tin rằng những năm tháng không thuận lợi ấy chỉ là một giai đoạn tạm thời.
Nhưng rồi không có “sau đó” nào thật sự xảy ra.
Theo lời quản lý, việc tôi tiếp tục hỗ trợ bộ phận kia sẽ không giúp cải thiện hiệu suất làm việc. Vì vậy, tôi rời dự án.
Gần thời điểm ấy, người đồng nghiệp cũng đi “đánh thuê” giống tôi quyết định chuyển việc. Tôi không biết chính xác anh đã trải qua những gì vì chúng tôi không trao đổi sâu về chuyện cá nhân.
Nhưng tôi thật sự khâm phục anh.
Tôi khâm phục vì khi nhận ra môi trường không còn phù hợp, anh đã có thể đưa ra quyết định và bước tiếp.
Trong ngày cuối cùng làm việc với bộ phận kia, tôi không nhận được những câu xã giao như “cảm ơn vì đã cộng tác” hay “chúc bạn may mắn”, dù trước đó tôi từng thấy họ nói những lời ấy với người đồng nghiệp sắp nghỉ việc.
Có thể chỉ là mọi người bận. Có thể không ai để ý.
Đó là một chi tiết rất nhỏ.
Nhưng trong hoàn cảnh lúc ấy, nó khiến cảm giác mình đang đứng bên lề trở nên rõ ràng hơn.
Một cơ hội được nhắc đến rồi biến mất
Sau đó, quản lý nói với tôi về một dự án cho khách hàng lớn. Dự án cần sử dụng tiếng Anh và ông cho rằng tôi phù hợp.
Tôi đã hy vọng đây sẽ là cơ hội giúp mọi việc quay trở lại đúng hướng.
Nhưng cuối cùng, cơ hội ấy cũng không đi đến đâu. Phía bên kia không tiếp nhận tôi và tôi không biết nguyên nhân cụ thể. Tôi không rõ mình còn thiếu kỹ năng nào, khách hàng thay đổi kế hoạch hay công ty đã lựa chọn một ứng viên khác.
Chỉ đến khi trưởng bộ phận mới can thiệp, tôi mới được đưa sang hỗ trợ một đơn vị khác. Đó là bộ phận AI vừa được thành lập.
Khi ấy, tôi vui hơn mình tưởng.
Sau một thời gian dài không biết mình thuộc về đâu, chỉ cần có một công việc rõ ràng cũng đủ khiến tôi cảm thấy nhẹ nhõm. Hơn nữa, đây còn là loại công việc mà tôi đang muốn thử: phát triển một product.
Tôi đặt hy vọng vào bộ phận AI
Ở bộ phận AI, tôi tham gia phát triển một sản phẩm đã có phiên bản đầu tiên. Công ty cung cấp dịch vụ này cho khách hàng và tùy chỉnh theo yêu cầu của từng trường hợp.
Dù vẫn có yếu tố triển khai riêng cho từng khách hàng, tôi cảm thấy mô hình này gần với phát triển product hơn. Chúng tôi có một nền tảng chung, có dịch vụ của riêng mình và tạo ra giá trị từ sản phẩm đó.
Với tôi, đây là một hướng đi ổn định hơn so với việc hoàn toàn phụ thuộc vào các dự án outsource riêng lẻ.
Sau vài tháng, trưởng bộ phận AI mời tôi chuyển hẳn sang đơn vị đó. Ông nói công việc ở đây có khả năng mang lại doanh thu cao hơn so với bộ phận cũ.
Tôi đồng ý.
Có một khoảnh khắc tôi đã tự hỏi mình có nên nhận lời hay không. Nếu tiếp tục ở bộ phận cũ, về lý thuyết, tôi vẫn có thể chờ cơ hội quay lại những loại dự án từng khiến mình yêu thích công ty.
Nhưng suy nghĩ đó nhanh chóng bị thực tế thay thế.
Tôi đã chờ khá lâu mà không biết cơ hội ấy có thật sự đến hay không. Trong khi đó, ở bộ phận AI, ít nhất tôi có một công việc rõ ràng và một hướng đi mới để thử sức.
Tôi xem đó như một cơ hội bắt đầu lại.
Lần đầu tiên tôi chính thức bị giảm lương
Việc được mời chuyển hẳn sang bộ phận AI khiến tôi nghĩ rằng ít nhất vẫn có một nơi nhìn thấy khả năng phù hợp của mình. Tôi không cho rằng lời mời ấy chứng minh tôi không có điểm yếu, nhưng nó giúp tôi tin rằng vấn đề có thể không chỉ nằm ở năng lực. Có lẽ tôi đã ở quá lâu trong một bộ phận không còn vị trí phù hợp với mình.
Nhưng vì thời điểm chuyển bộ phận quá gần kỳ đánh giá, tôi vẫn phải thực hiện đánh giá với người quản lý cũ.
Trong kỳ đó, tôi chính thức bị giảm lương.
Người quản lý nói rằng hiệu suất của tôi đã cải thiện sau khi sang bộ phận AI, nhưng theo đánh giá của ông, mức cải thiện vẫn chưa đủ. Ông cho rằng cấp bậc thực tế của tôi chỉ tương đương với thời điểm mới vào công ty, vì vậy công ty không thể tiếp tục duy trì mức lương hiện tại.
Tôi không biết nên nói gì.
Tôi chỉ ngồi nghe đến hết buổi rồi đi về.
Trong vài ngày sau đó, tôi gần như không thể tập trung làm việc.
Tôi không chỉ buồn vì số tiền bị giảm. Điều khiến tôi tổn thương hơn là cảm giác kinh nghiệm, đóng góp và những năm làm việc của mình bị phủ nhận.
Tôi từng vượt qua một quy trình tuyển dụng phức tạp để vào công ty. Tôi từng được đánh giá tốt và được tăng lương. Tôi đã hoàn thành một dự án kéo dài hơn hai năm.
Vậy mà sau tất cả, cấp bậc của tôi lại được đưa về gần với mức ban đầu.
Tôi đã cố tự an ủi rằng mình vừa sang một bộ phận mới. Nếu tiếp tục làm tốt, những người ở đây sẽ có cơ hội quan sát công việc của tôi lâu hơn và đưa ra một đánh giá khác.
Tôi đặt hy vọng vào một khởi đầu mới.
Nhưng hy vọng ấy cũng không kéo dài lâu.
Những người từng đặt kỳ vọng lần lượt rời đi
Sau đó, service manager rồi trưởng bộ phận lần lượt nghỉ việc. Quản lý của tôi cũng chuyển sang đơn vị khác và người quản lý trực tiếp được thay thế.
Sự ra đi của họ không chỉ là thay đổi về nhân sự. Với tôi, nó còn khiến nền tảng của quyết định chuyển bộ phận trước đây trở nên lung lay. Tôi đã chuyển sang đây vì tin vào định hướng mà họ chia sẻ, nhưng những người hiểu rõ nhất vì sao tôi được tiếp nhận lại không còn ở đó để tiếp tục hướng đi ấy.
Một người khác được chỉ định làm service manager tạm thời. Ngay từ đầu, tôi đã cảm thấy khó đặt niềm tin vào cách ông làm việc. Tôi hiểu đó có thể chỉ là cảm nhận cá nhân và có thể chịu ảnh hưởng bởi những trải nghiệm không tốt trước đó của tôi.
Trong lúc định hướng nội bộ trở nên thiếu chắc chắn, tình hình kinh doanh của dịch vụ cũng bắt đầu khó khăn hơn.
AI đã thay đổi rất nhiều chỉ trong thời gian ngắn. Bên trong công ty cũng xuất hiện một dịch vụ khác có chức năng tương tự. Dần dần, nhiều khách hàng được định hướng sang sử dụng dịch vụ mới.
Tôi chủ yếu tiếp tục xử lý công việc cho những khách hàng hiện tại.
Khách hàng cuối cùng mà tôi phụ trách thay đổi yêu cầu khá nhiều. Họ muốn dùng thử miễn phí, sau đó lại yêu cầu một hình thức dùng thử giới hạn. Chúng tôi đã trao đổi và điều chỉnh nhiều lần, nhưng cuối cùng họ vẫn quyết định không ký hợp đồng.
Service manager tạm quyền đã cố gắng giữ khách hàng bằng nhiều cách và liên tục tìm phương án để đáp ứng yêu cầu của họ.
Tuy nhiên, vì trực tiếp tham gia phát triển product, tôi hiểu khá rõ giới hạn kỹ thuật của nó. Theo đánh giá của tôi, sản phẩm không thể đáp ứng hoàn toàn những gì khách hàng muốn nếu không thay đổi đáng kể kiến trúc hoặc bản chất dịch vụ.
Chúng tôi cũng đưa ra một số phương án thay thế. Những phương án ấy không cung cấp sản phẩm đúng theo hình thức khách hàng đề nghị, nhưng vẫn có thể giải quyết nhu cầu theo một cách khác.
Dù vậy, các giải pháp đó không đủ sức thuyết phục khách hàng.
Cuối cùng, rất nhiều thời gian và công sức đã được bỏ ra nhưng không tạo thành hợp đồng.
Sống trong trạng thái chờ đợi
Trong giai đoạn đó, tôi thường xuyên ở trong trạng thái chờ xem khách hàng có tiếp tục sử dụng dịch vụ hay không.
Có tháng tôi có việc. Có tháng tôi gần như không có gì để làm.
Đã có lúc quản lý muốn chuyển tôi sang một bộ phận khác. Bộ phận đó do chính vị trưởng bộ phận cũ của tôi thành lập. Theo cách tôi hiểu, quản lý hiện tại muốn đưa tôi trở lại làm việc dưới đơn vị của người quản lý cũ.
Nhưng trước khi việc điều chuyển xảy ra, khách hàng lại phát sinh công việc. Vì thế, tôi tiếp tục ở lại.
Tình trạng ấy lặp đi lặp lại.
Tôi không biết vài tháng sau mình sẽ làm gì. Tôi không biết service có tồn tại lâu dài hay không. Tôi cũng không biết bộ phận thật sự cần tôi, hay chỉ đang giữ tôi lại trong khi chưa tìm được một vị trí khác phù hợp hơn.
Sự bất định kéo dài khiến tôi mệt mỏi hơn cả những giai đoạn bận rộn.
Khi có việc, ít nhất tôi còn có một vấn đề để tập trung giải quyết.
Nhưng trong những ngày gần như không có việc, tôi phải đối diện với một câu hỏi rất bình thường mà lại rất khó trả lời:
Mình đang ở đây để làm gì?
Môi trường lý tưởng đã kết thúc từ bao giờ?
Sau một thời gian dài nhìn lại, tôi bắt đầu tự hỏi liệu môi trường mà mình từng yêu thích có thật sự là văn hóa chung của công ty hay không.
Có lẽ nó gắn liền nhiều hơn với vị trưởng bộ phận đầu tiên.
Khi ông còn ở đó, tôi có cảm giác bộ phận được xây dựng dựa trên niềm tin vào năng lực chuyên môn của từng thành viên. Công việc của PM hay SE được xem là những phần khác nhau của cùng một dự án. Không ai phải chứng minh rằng vai trò của mình quan trọng hơn vai trò của người khác. Một kỹ sư có thể tạo ra giá trị bằng cách xây dựng sản phẩm tốt và giải quyết những vấn đề kỹ thuật khó.
Đó là môi trường mà tôi đã nhìn thấy khi mới vào công ty.
Tôi từng nghĩ cách làm việc ấy là một phần ổn định trong văn hóa của tổ chức. Nhưng có thể điều tôi yêu thích khi đó lại phụ thuộc rất nhiều vào quan điểm quản lý của một con người cụ thể.
Sau khi vị trưởng bộ phận đầu tiên chuyển sang đơn vị khác, những người tiếp quản có cách quản lý riêng. Họ phải đối diện với những hoàn cảnh kinh doanh khác, chịu những áp lực khác và đặt trọng tâm vào những năng lực khác.
Có lẽ với họ, khả năng trao đổi với khách hàng, tạo ra nhu cầu và mở rộng dự án quan trọng hơn những gì tôi từng nghĩ. Có lẽ họ không nhìn vai trò của một kỹ sư theo cùng cách với người trưởng bộ phận trước đây.
Tôi không cho rằng cách quản lý mới nhất định là sai. Mỗi người quản lý đều có mục tiêu và trách nhiệm riêng. Công ty cũng không thể duy trì mãi một cách vận hành khi thị trường và tình hình kinh doanh đã thay đổi.
Nhưng đối với tôi, sự thay đổi ấy tạo ra một khoảng cách ngày càng lớn.
Tôi gia nhập công ty trong một môi trường coi trọng năng lực kỹ thuật và tin rằng mình sẽ tiếp tục phát triển theo hướng đó. Trong khi những người quản lý đến sau có thể cần một kiểu nhân sự khác: không chỉ làm kỹ thuật mà còn phải chủ động tiếp cận khách hàng, tìm kiếm nhu cầu và góp phần tạo ra doanh thu.
Đôi khi tôi còn tự hỏi liệu những người quản lý sau này có thật sự muốn tiếp nhận tôi hay không.
Không ai từng nói thẳng rằng họ không cần tôi. Tôi cũng không có đủ căn cứ để khẳng định điều đó. Nhưng việc liên tục được chuyển từ bộ phận này sang bộ phận khác, được giao những công việc tạm thời hoặc phải chờ đợi trong thời gian dài đã khiến tôi có cảm giác mình không phải là người mà họ chủ động muốn tiếp nhận.
Có thể cảm giác ấy không phản ánh đầy đủ suy nghĩ của họ. Cũng có thể trong hoàn cảnh tổ chức liên tục thay đổi, chính những người quản lý cũng không biết nên sắp xếp tôi vào đâu.
Nhưng dù nguyên nhân là gì, trải nghiệm của tôi vẫn là một chuỗi ngày không biết mình thật sự thuộc về nơi nào.
Sau này, tôi được chuyển sang một team mới với một service manager mới. Theo cảm nhận của tôi, người quản lý này có nền tảng thiên về sales. Cách nói chuyện của ông nhẹ nhàng hơn người trước, nhưng những điều ông kỳ vọng ở tôi không khác quá nhiều.
Đến lúc đó, tôi bắt đầu hiểu rằng môi trường cũ sẽ không tự quay trở lại chỉ vì tôi được chuyển sang một team khác hoặc làm việc với một người quản lý mới.
Có lẽ điều tôi từng xem là văn hóa ổn định của công ty thực ra gắn nhiều hơn với bộ phận ban đầu và cách vị trưởng bộ phận đầu tiên xây dựng nó.
Không phải mọi thứ biến mất ngay khi ông chuyển đi. Sự thay đổi diễn ra chậm rãi, qua những lần tái cơ cấu, những người quản lý mới và những tiêu chí đánh giá mới.
Chỉ đến nhiều năm sau, tôi mới nhận ra mình đã luôn chờ đợi một cách làm việc cũ quay trở lại.
Điều tôi từng muốn tránh cuối cùng vẫn đuổi kịp tôi
Sau khi chuyển sang làm việc với service manager mới, tôi không còn có thể xem những yêu cầu liên quan đến sales là quan điểm cá nhân của một người quản lý.
Thông điệp tôi nhận được qua nhiều kỳ đánh giá và nhiều lần thay đổi tổ chức về cơ bản vẫn giống nhau: kỹ năng kỹ thuật là cần thiết, nhưng chỉ kỹ năng kỹ thuật thôi thì chưa đủ.
Tôi cần biết cách khiến khách hàng tin tưởng mình hơn. Tôi cần chủ động tìm ra nhu cầu, nâng cao giá trị của dự án và góp phần tạo thêm cơ hội kinh doanh.
Tôi hiểu vì sao công ty cần những điều đó.
Nghĩ cho cùng, đây là một công ty cung cấp dịch vụ IT, không phải một công ty chỉ tập trung phát triển sản phẩm công nghệ của riêng mình. Doanh thu đến từ khách hàng, hợp đồng và khả năng duy trì hoặc mở rộng dịch vụ. Khi thị trường thay đổi, công ty cũng phải thay đổi cách vận hành và những năng lực mà họ kỳ vọng ở nhân viên.
Nếu đứng ở góc nhìn của người quản lý, có lẽ việc yêu cầu một kỹ sư hiểu khách hàng và quan tâm đến giá trị kinh doanh là hoàn toàn hợp lý.
Nhưng hiểu được điều đó không có nghĩa là tôi cảm thấy mình phù hợp với nó.
Tôi từng rời công ty cũ vì không muốn dành phần lớn thời gian cho những công việc không thuộc về chuyên môn mà mình muốn theo đuổi. Khi gia nhập công ty hiện tại, tôi tin rằng mình đã tìm được một nơi mà kỹ sư có thể tập trung nhiều hơn vào việc xây dựng hệ thống và giải quyết vấn đề.
Sau nhiều năm, những điều tôi từng muốn tránh lại dần trở thành một phần quan trọng trong công việc và trong cách tôi được đánh giá.
Tôi không phản đối việc kỹ sư trao đổi với khách hàng. Tôi cũng không nghĩ kỹ thuật có thể hoàn toàn tách rời khỏi nhu cầu kinh doanh. Một sản phẩm dù tốt đến đâu cũng không có nhiều ý nghĩa nếu nó không giải quyết được vấn đề thực tế của người sử dụng.
Nhưng giữa việc hiểu nhu cầu của khách hàng để xây dựng một hệ thống tốt hơn và việc phải tự tạo ra nhu cầu, tìm kiếm dự án hoặc mở rộng doanh thu vẫn có một khoảng cách.
Đó là khoảng cách mà tôi ngày càng cảm nhận rõ.
Tôi chọn nghề kỹ sư vì thích xây dựng hệ thống, đọc code và tìm nguyên nhân của những vấn đề phức tạp. Tôi có thể dành nhiều giờ để điều tra một hành vi bất thường, lần theo log hoặc kiểm tra cách dữ liệu đi qua nhiều agent và nhiều tầng xử lý. Những công việc ấy khiến tôi mệt, nhưng cũng mang lại cho tôi cảm giác mình đang làm đúng điều mình yêu thích.
Trong khi đó, khả năng bán dịch vụ, tạo nhu cầu và mở rộng quan hệ với khách hàng không phải là hướng phát triển mà tôi muốn đặt ở trung tâm sự nghiệp của mình.
Có thể công ty đang cần những kỹ sư có thể đảm nhận đồng thời cả hai vai trò.
Có thể đó cũng là hình mẫu phù hợp với tình hình kinh doanh hiện tại.
Nhưng có lẽ tôi không phải là kiểu kỹ sư mà tổ chức đang cần nữa.
Ngược lại, môi trường hiện tại cũng có thể không còn là nơi phù hợp với kiểu kỹ sư mà tôi muốn trở thành.
Tôi từng nghĩ chỉ cần thay đổi quản lý, chuyển sang một dự án mới hoặc chờ thêm một lần tái cơ cấu thì mọi thứ sẽ trở lại như trước. Nhưng khi cùng một thông điệp tiếp tục xuất hiện dưới những người quản lý khác nhau, tôi hiểu rằng đây không còn là một giai đoạn tạm thời.
Công ty đã chọn một hướng đi khác.
Và tôi cũng cần thành thật nhìn lại hướng đi của mình.
Điều khiến tôi mệt mỏi không phải là công ty thay đổi theo nhu cầu kinh doanh. Điều khiến tôi mệt mỏi là tôi đã cố thích nghi trong một thời gian dài, dù ngày càng nhận ra những điều được kỳ vọng ở mình không còn trùng với những điều mình muốn theo đuổi.
Có lẽ không ai hoàn toàn sai trong câu chuyện này.
Những người quản lý có trách nhiệm tìm kiếm doanh thu và bảo đảm hoạt động của bộ phận. Còn tôi muốn tiếp tục phát triển theo hướng chuyên môn kỹ thuật, nơi giá trị của mình được thể hiện chủ yếu qua những hệ thống đã xây dựng và những vấn đề đã giải quyết.
Sự khác biệt ấy không nhất thiết phải trở thành một cuộc tranh luận xem bên nào đúng hơn.
Nhưng nó là điều tôi không thể tiếp tục bỏ qua.
Tôi vẫn thích công việc kỹ thuật như ngày nào
Khi nhận ra công ty và bản thân có thể đang đi theo hai hướng khác nhau, tôi đã tự hỏi liệu mình có đang cố bám lấy một hình ảnh quá cũ về nghề kỹ sư hay không.
Có thể vấn đề không chỉ nằm ở môi trường. Có thể sau nhiều năm, công việc kỹ thuật thuần túy không còn đủ để tôi tiếp tục phát triển. Cũng có thể tôi đang dùng sở thích cá nhân để tránh những năng lực mà một kỹ sư có kinh nghiệm cần phải học.
Tôi đã suy nghĩ khá lâu về điều đó.
Nhưng có một điều tôi biết chắc: tôi vẫn còn rất thích công việc kỹ thuật.
Sau nhiều năm làm kỹ sư, tôi vẫn thích ngồi đọc code. Tôi vẫn thích nhìn vào một vấn đề khó và tự hỏi nguyên nhân thật sự nằm ở đâu. Tôi vẫn thấy hào hứng khi cuối cùng tìm ra lời giải sau nhiều ngày điều tra.
Trong thời gian gần đây, phần lớn công việc của tôi liên quan đến các hệ thống AI.
Có những task thoạt nhìn rất đơn giản. Chỉ là một kết quả đánh giá không giống mong đợi, một test case thất bại hoặc một hành vi kỳ lạ của hệ thống.
Nhưng càng đào sâu, tôi càng nhận ra phía sau đó là rất nhiều tầng xử lý khác nhau. Dữ liệu đi qua nhiều bước, nhiều agent, nhiều prompt và nhiều cơ chế đánh giá. Chỉ riêng việc xác định lỗi xuất hiện ở đâu đôi khi cũng mất vài ngày.
Tôi vẫn nhớ những lần ngồi đọc log hàng giờ.
Ban đầu, tôi nghĩ nguyên nhân nằm ở dữ liệu đầu vào. Sau khi kiểm tra, tôi lại nhận ra không phải như vậy. Tôi chuyển sang điều tra cách các agent tương tác với nhau. Có lúc tôi gần như chắc chắn đã tìm thấy câu trả lời, nhưng khi kiểm tra lại thì vẫn còn một điểm nào đó chưa khớp.
Những lúc như vậy vừa mệt, vừa thú vị theo cách rất riêng của nghề kỹ sư.
Gần đây, tôi dành khá nhiều thời gian cho những task liên quan đến phát triển AI Agent cho khách hàng. Có những bug mà lúc đầu tôi nghĩ chỉ cần sửa vài dòng code là xong. Nhưng sau khi điều tra, tôi mới phát hiện nguyên nhân nằm ở việc một sub-agent được gọi nhiều lần ngoài dự kiến.
Cũng có những trường hợp kết quả đánh giá thay đổi chỉ vì cách dữ liệu được truyền từ bước này sang bước khác.
Mỗi lần lần theo từng dấu vết và tìm được nguyên nhân thật sự, tôi vẫn cảm thấy hào hứng như những ngày đầu bước chân vào nghề.
Đó là những khoảnh khắc nhắc tôi nhớ lý do mình chọn công việc này.
Tôi không trở thành kỹ sư vì thích họp. Tôi cũng không chọn nghề này vì muốn thuyết phục người khác mua dịch vụ.
Tôi trở thành kỹ sư đơn giản vì tôi thích xây dựng hệ thống và giải quyết vấn đề.
Có lẽ vì vậy mà tôi càng cảm thấy mâu thuẫn.
Ban ngày, tôi vẫn được làm những công việc kỹ thuật mà mình yêu thích. Tôi vẫn được giao điều tra các vấn đề phức tạp. Đồng nghiệp vẫn tìm đến tôi khi gặp những vấn đề khó. Có những lúc tôi vẫn cảm thấy mình là một kỹ sư có ích.
Thế nhưng, cứ đến kỳ đánh giá, tôi lại có cảm giác những điều đó không còn giữ vị trí quan trọng như tôi từng nghĩ.
Những câu chuyện thường tập trung nhiều hơn vào việc làm thế nào để nâng cao giá trị bản thân trong mắt khách hàng, tạo ra cơ hội kinh doanh hoặc mở rộng dự án.
Tôi hiểu tất cả những điều ấy đều quan trọng đối với công ty.
Có lẽ ở vị trí của người quản lý, họ cũng có những áp lực và trách nhiệm riêng. Tôi không nghĩ mọi người cố tình phủ nhận công việc kỹ thuật của tôi.
Nhưng mỗi lần nghe những yêu cầu ấy, tôi lại cảm thấy mình đang rời xa lý do ban đầu khiến mình gia nhập nơi này.
Ngày trước, điều tôi yêu thích nhất ở bộ phận là cảm giác mọi người được đánh giá dựa trên đóng góp của mình đối với sản phẩm và dự án.
PM có giá trị riêng. SE cũng có giá trị riêng. Không ai phải chứng minh rằng công việc của mình quan trọng hơn công việc của người khác.
Bây giờ, ít nhất theo cảm nhận của tôi, giá trị của một kỹ sư không chỉ nằm ở việc người đó giải quyết được những bài toán khó đến đâu. Khả năng tạo ra cơ hội kinh doanh, xây dựng niềm tin với khách hàng và giúp công ty mở rộng dịch vụ cũng trở nên quan trọng không kém, thậm chí có lúc quan trọng hơn.
Có thể đó là sự trưởng thành của tổ chức.
Có thể đó là hướng đi đúng đối với công ty.
Nhưng mỗi lần nghĩ đến điều đó, tôi lại thấy tiếc.
Tôi tiếc không chỉ vì mình bị đánh giá thấp.
Tôi tiếc vì môi trường mà mình từng rất yêu quý dường như đã không còn nữa.
Nếu công ty ngay từ đầu đã giống như hiện tại, có lẽ tôi đã không thất vọng đến thế. Tôi có thể đơn giản chấp nhận rằng đó không phải là nơi phù hợp với mình.
Điều khó khăn nhất là tôi đã từng nhìn thấy một phiên bản khác của nơi này.
Một phiên bản khiến tôi tin rằng mình có thể gắn bó rất lâu.
Có lẽ chính ký ức về phiên bản ấy là thứ đã giữ chân tôi suốt những năm qua.
Và cũng có lẽ, vì từng yêu quý nơi này như vậy nên tôi càng khó chấp nhận thực tế hiện tại.
Điều làm tôi mệt mỏi không chỉ là chuyện giảm lương
Nếu chỉ là giảm lương, có lẽ tôi vẫn có thể cố gắng thêm.
Nếu chỉ là một kỳ đánh giá không tốt, tôi có thể xem đó là phản hồi và tìm cách cải thiện.
Nếu chỉ là thiếu dự án trong vài tháng, tôi có thể học thêm kỹ năng mới hoặc kiên nhẫn chờ cơ hội.
Nhưng điều khiến tôi mệt mỏi là những chuyện ấy không xảy ra riêng lẻ. Chúng nối tiếp nhau trong nhiều năm, trong khi tôi ngày càng ít hiểu vị trí của mình trong tổ chức.
Có những lúc hoàn cảnh công việc và tiêu chí đánh giá không khớp với nhau. Tôi được giao một dự án thiếu mục tiêu rõ ràng nhưng lại bị đánh giá là không chủ động. Tôi không được tham gia quá trình xác định yêu cầu, nhưng lại được kỳ vọng phải tự tìm ra yêu cầu. Tôi tập trung giải quyết các vấn đề kỹ thuật, trong khi giá trị của mình ngày càng được đo bằng khả năng tạo nhu cầu và mở rộng kinh doanh.
Mỗi việc riêng lẻ đều có thể giải thích được. Nhưng khi ghép tất cả lại, tôi không thể tiếp tục xem chúng là những khó khăn tạm thời.
Công ty đã thay đổi. Công việc đã thay đổi. Cách tổ chức nhìn nhận một kỹ sư cũng đã thay đổi.
Có lẽ bản thân tôi cũng đã thay đổi. Tôi không còn đủ năng lượng để liên tục thích nghi với một môi trường ngày càng xa những điều mình muốn theo đuổi.
Tôi đã ở lại vì sợ phải bắt đầu lại
Tôi vẫn chưa nghỉ việc. Phần lớn không phải vì tôi còn tin chắc mọi thứ sẽ tốt lên, mà vì tôi sợ phải bắt đầu lại.
Tôi nghĩ đến việc sửa hồ sơ, liệt kê thành tích, luyện phỏng vấn và giải thích lý do muốn nghỉ việc. Tôi nghĩ đến những vòng kiểm tra kỹ thuật, những cuộc nói chuyện bằng tiếng Nhật hoặc tiếng Anh và những ngày chờ đợi kết quả.
Tôi cũng sợ rằng vấn đề không nằm ở công ty, mà nằm ở chính mình.
Nếu sang một công ty khác mà tôi vẫn bị đánh giá như vậy thì sao?
Nếu năng lực của tôi thật sự chỉ hơn một người mới tốt nghiệp một chút thì sao?
Nếu những gì tôi tin là thế mạnh chuyên môn của mình thực ra không còn được thị trường coi trọng thì sao?
Những câu hỏi ấy khiến tôi chần chừ.
Nhưng rồi tôi nghĩ đến người đồng nghiệp đã quyết định chuyển việc.
Tôi từng khâm phục anh vì anh dám rời đi khi nhận ra môi trường không còn phù hợp.
Có lẽ anh cũng từng sợ.
Có lẽ anh không chờ đến khi hoàn toàn hết sợ mới hành động. Có lẽ anh chỉ hiểu rằng nỗi sợ trước một khởi đầu mới vẫn dễ chịu hơn việc tiếp tục ở lại một nơi khiến mình dần mất niềm tin vào bản thân.
Có lẽ nghỉ việc không có nghĩa là tôi đã thất bại
Trong một thời gian dài, tôi xem việc nghỉ việc như một sự thừa nhận thất bại.
Tôi từng nghĩ đây là công ty mà mình có thể gắn bó lâu dài. Nếu bây giờ rời đi, tôi có cảm giác như mình phải thừa nhận rằng những kỳ vọng ban đầu của mình đều sai.
Nhưng có lẽ cách nghĩ đó không công bằng với chính tôi.
Những cảm xúc tốt đẹp trong ngày tôi mới vào công ty là thật.
Những dự án đầu tiên, những đồng nghiệp giỏi, triết lý Agile và cảm giác được coi trọng đều là thật.
Tôi không sai khi từng yêu thích môi trường đó.
Chỉ là môi trường ấy không còn giống như trước.
Rời khỏi một nơi đã thay đổi không có nghĩa là tôi phủ nhận toàn bộ quá khứ. Tôi chỉ thừa nhận rằng hiện tại không còn phù hợp với mình.
Tôi cũng không nhất thiết phải chứng minh rằng công ty sai và tôi đúng.
Công ty có quyền lựa chọn mô hình kinh doanh, điều chỉnh chiến lược và xây dựng hệ thống đánh giá phù hợp với mục tiêu của họ.
Tôi cũng có quyền lựa chọn một nơi phù hợp hơn với thế mạnh và giá trị nghề nghiệp của mình.
Nếu công ty cần một người vừa làm kỹ thuật, vừa tham gia bán hàng, vừa tạo nhu cầu, vừa xây dựng quan hệ với khách hàng và mở rộng dự án, thì có thể tôi không phải là người họ cần.
Nếu tôi muốn trở thành một kỹ sư được đánh giá chủ yếu dựa trên khả năng giải quyết vấn đề, chất lượng sản phẩm và năng lực chuyên môn, thì có thể công ty hiện tại không còn là nơi tôi cần.
Hai điều đó có thể cùng đúng.
Không nhất thiết phải có một bên hoàn toàn tốt và một bên hoàn toàn xấu.
Tôi cần chuẩn bị trước khi rời đi
Dù đã nghĩ nhiều đến chuyện nghỉ việc, tôi không muốn đưa ra quyết định trong lúc giận dữ.
Tôi cần nhìn lại năng lực của mình một cách khách quan. Tôi cần phân biệt đâu là phản hồi hợp lý mà mình nên tiếp thu, đâu là sự khác biệt về giá trị nghề nghiệp và đâu là hệ quả của việc tổ chức không có một vị trí thật sự phù hợp với tôi.
Tôi cũng cần chuẩn bị về tài chính.
Tôi không muốn nghỉ ngay khi chưa biết mình có thể duy trì cuộc sống trong bao lâu. Một quyết định nhằm giải thoát bản thân khỏi áp lực không nên tạo ra một áp lực khác còn lớn hơn.
Tôi cần cập nhật hồ sơ nghề nghiệp, tổng hợp lại những dự án đã làm và ghi rõ những vấn đề mình từng giải quyết.
Tôi đã để những kỳ đánh giá gần đây khiến mình quên mất những gì bản thân từng làm được.
Tôi cần thử phỏng vấn để hiểu giá trị hiện tại của mình trên thị trường. Một vài cuộc phỏng vấn có thể giúp tôi biết kỹ năng nào vẫn còn phù hợp, kỹ năng nào cần cập nhật và phần nào tôi còn thiếu.
Quan trọng hơn, tôi cần xác định rõ mình đang tìm kiếm điều gì.
Tôi không muốn tiếp tục chuyển từ một công ty outsource sang một công ty outsource khác rồi hy vọng mọi thứ sẽ tự khác đi. Tôi muốn hiểu mô hình kinh doanh của công ty mới, cách họ tạo doanh thu, cách họ đánh giá kỹ sư và con đường phát triển dành cho những người thiên về chuyên môn.
Tôi cũng cần hỏi rõ rằng một kỹ sư cấp cao ở đó được kỳ vọng làm những gì.
Nếu câu trả lời vẫn chủ yếu là tự tìm dự án, thuyết phục khách hàng và bán thêm dịch vụ, tôi phải thành thật thừa nhận rằng môi trường ấy có thể không phù hợp với mình.
Có những ngày tôi mở lại tài liệu cũ của những dự án đầu tiên và đọc những ghi chú kỹ thuật mình từng viết.
Đôi khi tôi bất giác mỉm cười.
Có những đoạn code bây giờ nhìn lại không còn đặc biệt nữa. Nhưng chúng nhắc tôi nhớ đến thời điểm mình từng thật sự hào hứng với công việc.
Tôi thích cảm giác giải quyết được một vấn đề khó.
Tôi thích những cuộc thảo luận kỹ thuật kéo dài hàng giờ với đồng nghiệp.
Tôi thích cảm giác bắt đầu một ngày làm việc và biết rõ mình đang cố gắng vì điều gì.
Có lẽ điều tôi tiếc nuối nhất không phải là một công ty.
Điều tôi tiếc nuối là cảm giác ấy.
Có lẽ đã đến lúc tôi nên nghỉ việc
Sau khi viết hết những điều này, tôi nhận ra câu hỏi quan trọng không còn là liệu công ty có quay trở lại như trước hay không.
Có lẽ những gì tôi từng yêu thích ở nơi này sẽ không quay trở lại nữa.
Câu hỏi thật sự là liệu tôi có muốn tiếp tục đánh đổi thời gian, thu nhập và sự tự tin để chờ đợi một môi trường đã thay đổi hay không.
Tôi chưa thể nói rằng ngày mai mình sẽ nộp đơn nghỉ việc. Tôi vẫn cần chuẩn bị hồ sơ, tài chính và tinh thần. Tôi cần nhìn lại năng lực của mình một cách khách quan, tìm hiểu thị trường và xác định rõ nơi mình muốn đến.
Nhưng tôi không nên tiếp tục tự thuyết phục rằng chỉ cần chờ thêm một dự án, một kỳ đánh giá hoặc một lần tái cơ cấu thì mọi thứ sẽ lại giống như trước.
Tôi đã chờ đủ lâu rồi.
Nếu tiếp tục ở lại, tôi phải chấp nhận công ty hiện tại, không phải công ty trong ký ức. Tôi phải chấp nhận rằng mình sẽ được kỳ vọng tham gia nhiều hơn vào việc tạo nhu cầu, tìm kiếm dự án và xây dựng quan hệ với khách hàng.
Nếu đó không phải là hướng đi tôi muốn lựa chọn, tôi cần rời đi.
Điều này không có nghĩa là công ty sai, cũng không có nghĩa là những năm tôi ở đây đã trở nên vô nghĩa.
Tôi vẫn biết ơn những con người từng tin tưởng mình, những dự án đã giúp mình trưởng thành và quãng thời gian tôi từng thật sự yêu thích công việc ở đây. Những điều tốt đẹp ấy là thật, ngay cả khi hiện tại đã khác.
Có lẽ điều khiến tôi do dự lâu đến vậy không phải là vì tôi còn muốn ở lại.
Tôi chỉ chưa sẵn sàng từ biệt một nơi từng có ý nghĩa rất lớn với mình.
Nhưng rồi tôi cũng phải chấp nhận rằng công ty trong ký ức và công ty hiện tại không còn là một. Tôi không thể tiếp tục chờ đợi một nơi đã không còn tồn tại theo cách mà mình từng biết.
Không phải vì tôi ghét công ty này.
Cũng không phải vì tôi muốn chứng minh điều gì với ai.
Chỉ đơn giản là vì tôi không còn nhìn thấy tương lai của mình ở đây nữa.
